Nghiệm thu là bước xác nhận sàn epoxy đã thi công có đạt những gì hai bên đã thỏa thuận hay không, trước khi đưa vào sử dụng. Nhiều tranh cãi về sàn epoxy không xuất phát từ kỹ thuật thi công mà từ việc ngay từ đầu không ai ghi rõ tiêu chí nghiệm thu: kiểm tra cái gì, bằng cách nào, và mức nào thì được coi là đạt.
Bài này trình bày khung tiêu chí nghiệm thu theo đặc tính chung của vật liệu sơn epoxy phủ nền, tham khảo khung tiêu chuẩn TCVN 9014:2011 và TCVN 12574-2018. Đây là khung chung để các bên thỏa thuận, không phải thông số riêng của một hệ sơn cụ thể. Thông số kỹ thuật (TDS) chính thức của từng sản phẩm Kadier xem tại trang Sản phẩm; bài viết này trình bày khung chung, không thay thế TDS của sản phẩm cụ thể.
Nguyên tắc đầu tiên: thỏa thuận trước, đo sau
Một biên bản nghiệm thu tốt được chuẩn bị từ trước khi thi công, không phải viết vội vào ngày bàn giao. Các bên nên thống nhất bằng văn bản: phạm vi nghiệm thu (toàn bộ sàn hay từng khu vực), hệ sơn đã thi công (lăn hay tự san phẳng), độ dày thiết kế, màu sắc, các khu vực đặc biệt (lối xe nâng, khu vực chịu hóa chất, chân tường), và cách xử lý khi phát hiện lỗi.
Việc này quan trọng vì nhiều tiêu chí mang tính cảm quan nếu không có chuẩn đối chiếu. Ví dụ, “màu đều” cần có mẫu màu hoặc mã màu đã duyệt để so sánh; “mặt phẳng” cần có cách đo đã thống nhất, thay vì chỉ nhìn bằng mắt trong một điều kiện ánh sáng duy nhất.
Nhóm tiêu chí 1: quan sát bề mặt
Quan sát là bước đầu tiên và thường phát hiện nhiều lỗi nhất. Khi kiểm tra, nên đi dọc toàn bộ mặt sàn dưới ánh sáng làm việc bình thường, đồng thời soi nghiêng ở những khu vực nghi ngờ để thấy rõ khuyết tật.
- Màu sắc và độ bóng: màu đồng đều trong từng khu vực, không loang lổ rõ rệt, không lệch hẳn so với mẫu đã duyệt.
- Bề mặt liền mạch: không nứt, không bong tróc, không rộp khí, không có vết lăn hay vết chổi hằn rõ thành vệt.
- Vệ sinh bề mặt: không còn bụi, cát, tạp chất bám dính trong lớp phủ; các mép, góc, chân tường được xử lý gọn.
- Kẻ vạch và phân khu (nếu có): vạch thẳng, rõ, đúng vị trí và màu sắc đã thống nhất.
Các lỗi bề mặt nên được ghi vị trí cụ thể trên sơ đồ mặt bằng, kèm ảnh chụp, thay vì ghi chung chung “sàn chưa đẹp”. Ghi rõ vị trí giúp đội thi công sửa đúng chỗ và giúp lần nghiệm thu lại nhanh hơn.
Nhóm tiêu chí 2: độ dày, độ phẳng và độ bám dính
Ba chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp chất lượng hệ sơn và khả năng chịu tải về sau.
- Độ dày lớp phủ: đo tại nhiều điểm đại diện trên từng khu vực, đặc biệt ở lối đi chính và khu vực chịu tải. Độ dày thực tế cần bám sát độ dày thiết kế đã thỏa thuận; khung độ dày chung của sàn epoxy thường nằm trong khoảng 0,2–3 mm tùy hệ sơn và công năng, nhưng con số áp dụng cho từng công trình phải lấy theo thiết kế và tài liệu kỹ thuật của hệ sơn đó.
- Độ phẳng: kiểm tra bằng thước thẳng hoặc phương pháp đã thỏa thuận, tập trung ở khu vực xe nâng di chuyển và khu vực đặt máy, vì mặt sàn lồi lõm ảnh hưởng tới vận hành và an toàn.
- Độ bám dính: phương pháp kéo (pull-off test) là cách kiểm tra thường dùng để đánh giá lớp phủ có bám chắc vào nền bê tông hay không. Việc có làm kiểm tra này, làm ở bao nhiêu điểm và kết quả được đánh giá ra sao nên được thỏa thuận trước, vì kiểm tra bám dính là kiểm tra phá hủy cục bộ và cần sửa lại vị trí đã kiểm tra.
Trước khi đo độ dày hay độ bám dính, cần lưu ý một bước nền tảng đã được trình bày trong bài xử lý nền bê tông trước khi sơn epoxy: nền yếu, ẩm cao hay chưa được mài và vá nứt đúng cách đều có thể làm lớp phủ bong tróc về sau, dù bề mặt lúc bàn giao trông vẫn tốt.
Nhóm tiêu chí 3: công năng sử dụng
Một mặt sàn đẹp nhưng trơn khi ướt, hoặc nhanh mòn ở lối xe nâng, vẫn chưa đạt yêu cầu sử dụng. Tùy công năng, các bên nên kiểm tra thêm:
- Chống trơn trượt: đặc biệt ở lối đi, khu vực ướt, dốc và khu vực có dầu mỡ. Yêu cầu chống trơn cần tương ứng với điều kiện sử dụng thực tế, không chỉ kiểm tra khi sàn khô.
- Kháng hóa chất và kháng mài mòn: kiểm tra theo loại hóa chất và tần suất tiếp xúc thực tế của công trình, dựa trên tài liệu kỹ thuật của hệ sơn đã chọn.
- Dễ vệ sinh: bề mặt liền mạch, không khe nối là lợi thế chung của sàn epoxy; khi nghiệm thu, nên thử vệ sinh một khu vực mẫu bằng phương pháp vệ sinh mà nhà máy sẽ dùng hằng ngày.
- Thời gian đưa vào sử dụng: chỉ nghiệm thu và bàn giao khi lớp phủ đã đóng rắn đủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất hệ sơn; đưa tải nặng lên sàn quá sớm có thể làm hỏng lớp phủ dù thi công đúng.
Biên bản nghiệm thu nên có những gì?
Một biên bản nghiệm thu đầy đủ thường gồm: thông tin công trình và phạm vi nghiệm thu; hệ sơn và độ dày thiết kế; danh mục tiêu chí đã kiểm tra và kết quả từng tiêu chí; danh sách lỗi kèm vị trí, ảnh chụp và thời hạn khắc phục; kết luận nghiệm thu (đạt, đạt có điều kiện cần sửa lỗi, hay chưa đạt); chữ ký của các bên.
Với lỗi nhỏ, cục bộ, các bên có thể thống nhất nghiệm thu có điều kiện kèm lịch sửa chữa rõ ràng. Với lỗi ảnh hưởng tới kết cấu lớp phủ như bong tróc diện rộng hay bám dính kém, cần sửa triệt để và nghiệm thu lại khu vực đó, thay vì chỉ phủ thêm một lớp mỏng lên trên để che lỗi.
Quy trình từ khảo sát, xử lý nền, thi công đến bàn giao đã được trình bày tổng thể trong bài quy trình thi công sơn epoxy chuẩn từ khảo sát đến nghiệm thu. Nghiệm thu là khâu cuối của quy trình đó, nhưng tiêu chí của nó nên được chốt ngay từ đầu, để cả chủ đầu tư và nhà thầu cùng đo bằng một thước đo.
Chọn hệ sơn nào cho công trình sắp nghiệm thu?
Tiêu chí nghiệm thu luôn gắn với hệ sơn đã chọn: hệ lăn nhiều lớp như RollCoat và hệ tự san phẳng như LevelFlow có độ dày thiết kế và yêu cầu bề mặt khác nhau, nên không thể dùng cùng một bảng tiêu chí chi tiết cho cả hai. Khi nhận tư vấn, chủ đầu tư nên yêu cầu nhà cung cấp nêu rõ độ dày thiết kế, phương pháp kiểm tra và tài liệu kỹ thuật đi kèm của đúng hệ sơn sẽ thi công.
Nhận tư vấn về tiêu chí nghiệm thu phù hợp với công trình của bạn, kèm tài liệu kỹ thuật của hệ sơn tương ứng khi có.
Ảnh minh họa: Pexels — Tiger Lily. Nguồn ảnh: pexels.com.


Pingback: Kiểm tra độ bám dính bằng phương pháp kéo (pull-off test) - Kadier — Sơn epoxy phủ nền công nghiệp