Bài này là giải pháp toàn nhà máy cho nhà máy hóa chất, không phải bài chuyên sâu về cơ chế kháng axit. Cơ chế kháng axit, vì sao cùng một axit ở điều kiện khác nhau lại cho kết quả khác nhau, và cách phân vùng theo mức độ tiếp xúc axit đã được trình bày kỹ tại: Sơn epoxy chống axit cho nhà máy hóa chất. Bài này đi tiếp từ đó: một nhà máy hóa chất thực tế không chỉ có axit, không chỉ có một khu vực sản xuất, mà có cả axit lẫn kiềm, có kho, khu nạp liệu, khu chiết rót, rãnh thoát, lối vận chuyển và khu phụ trợ, và sàn của toàn bộ các khu vực đó phải được tính như một hệ thống, không phải từng ô riêng lẻ.
Nhìn toàn nhà máy: mỗi khu vực một kịch bản tiếp xúc
Khu sản xuất là nơi hóa chất được pha chế, phản ứng và chuyển qua đường ống, với rủi ro bắn tóe và đổ tràn trong quá trình vận hành. Kho là nơi chứa nguyên liệu và thành phẩm, rủi ro chính là rò rỉ từ bao bì, thùng phuy và bồn chứa. Khu nạp liệu và chiết rót là nơi đổ tràn xảy ra thường xuyên nhất, vì đây là điểm chuyển hóa chất từ bồn này sang bồn khác. Lối vận chuyển và khu vực giao nhận có rủi ro thấp hơn nhưng diện tích lớn, và một vết rò rỉ trên đường vận chuyển có thể lan ra toàn bộ lối đi nếu sàn không liền mạch và không có rãnh thu gom. Vì vậy câu hỏi đầu tiên khi làm sàn cho nhà máy hóa chất không phải là chọn loại sơn nào, mà là mô tả đúng kịch bản tiếp xúc của từng khu vực: hóa chất nào, tiếp xúc theo kiểu đổ tràn ngắn hạn, bắn tóe, hay ngâm liên tục, trong bao lâu, ở nhiệt độ nào.
Cả axit lẫn kiềm, không suy ra từ nhau
Nhà máy hóa chất dùng cả axit và kiềm: axit trong sản xuất và tẩy rửa, kiềm trong vệ sinh công nghiệp, trung hòa và một số quy trình sản xuất. Một sai lầm thường gặp là cho rằng hệ sơn chịu được axit thì tự động chịu được kiềm, hoặc ngược lại. Trên thực tế, khả năng kháng axit và khả năng kháng kiềm của một hệ phủ phải được kiểm tra riêng, theo từng loại hóa chất và điều kiện tiếp xúc cụ thể. Bảng dưới đây chỉ mang tính định hướng về khu vực, không phải bảng tra cứu kháng hóa chất của bất kỳ sản phẩm nào; mọi khả năng kháng cụ thể đều phải tra cứu theo tài liệu kỹ thuật chính thức của hệ sơn được chọn.
| Khu vực | Loại tiếp xúc thường gặp (định tính) | Yêu cầu đặt ra và tra cứu |
|---|---|---|
| Khu sản xuất | Bắn tóe và đổ tràn trong vận hành | Khả năng kháng của hệ sơn với hóa chất tại khu vực này: tra cứu theo TDS sản phẩm cụ thể |
| Kho nguyên liệu và thành phẩm | Rò rỉ từ bao bì, thùng và bồn chứa | Khả năng kháng của hệ sơn với hóa chất lưu kho tại đây: tra cứu theo TDS sản phẩm cụ thể |
| Khu nạp liệu và chiết rót | Đổ tràn thường xuyên tại điểm chuyển | Khả năng kháng của hệ sơn với hóa chất nạp và chiết tại đây: tra cứu theo TDS sản phẩm cụ thể |
| Rãnh thoát và hố thu gom | Tiếp xúc kéo dài với hóa chất đã thu gom | Khả năng kháng của hệ sơn với hóa chất thu gom tại đây: tra cứu theo TDS sản phẩm cụ thể |
| Lối vận chuyển và giao nhận | Vết rò rỉ lan theo lối đi | Khả năng kháng của hệ sơn với hóa chất vận chuyển qua đây: tra cứu theo TDS sản phẩm cụ thể |
| Khu vệ sinh công nghiệp bằng kiềm | Tiếp xúc với dung dịch vệ sinh kiềm | Khả năng kháng kiềm của hệ sơn tại khu vực này: tra cứu theo TDS sản phẩm cụ thể |
Rãnh thoát, bo chân tường và khe: nơi hóa chất tìm đường xuống nền
Trong nhà máy hóa chất, sàn hỏng thường bắt đầu không phải ở giữa mặt sàn mà ở các chi tiết: chân tường, rãnh thoát, khe co giãn và vị trí ống xuyên sàn. Hóa chất đổ tràn chảy tới chân tường và rãnh, đọng lại ở đó và tấn công lớp phủ từ mép. Vì vậy hệ sàn cho nhà máy hóa chất cần được thiết kế liền mạch tới chân tường, rãnh thoát thu gom được về hố chứa, và các khe được xử lý sao cho hóa chất không ngấm xuống nền qua khe. Đây cũng là lý do bài chuyên sâu về kháng axit nhấn mạnh bo chân tường và rãnh thu gom liền mạch; ở cấp độ toàn nhà máy, nguyên tắc này phải áp dụng đồng đều cho mọi khu vực, không chỉ khu sản xuất chính.
Vệ sinh, an toàn và kiểm tra định kỳ
Sau đổ tràn, tốc độ vệ sinh quyết định phần lớn mức độ hư hại: đổ tràn được thu gom và rửa sạch ngay khác hẳn hóa chất đọng lại qua đêm hay qua cuối tuần. Quy trình ứng phó đổ tràn, phương tiện bảo hộ và biển cảnh báo phân khu là trách nhiệm vận hành của nhà máy, cần được thống nhất trước khi thi công sàn, không phải việc phát sinh sau khi sàn đã hỏng. Định kỳ, các vị trí rãnh thoát, chân tường và khu nạp liệu nên được kiểm tra xem có dấu hiệu ố màu, mềm bề mặt hay bong mép hay không, vì đó là dấu hiệu sớm cho thấy hệ sơn tại khu vực đó không còn phù hợp với hóa chất đang dùng. Khi có dấu hiệu này, cần đối chiếu lại với tài liệu kỹ thuật của hệ sơn và bảng kháng hóa chất của nhà sản xuất, thay vì tiếp tục sử dụng như cũ. Khung tra cứu kháng hóa chất nói chung được trình bày tại: Kháng hóa chất của sàn epoxy: bảng tra theo nồng độ axit
Khi nào cần hỏi sâu hơn trước khi chọn hệ
Trước khi chọn hệ sơn cho một nhà máy hóa chất cụ thể, cần có danh mục hóa chất thực tế đang dùng, kịch bản tiếp xúc của từng khu vực, nhiệt độ làm việc và yêu cầu vệ sinh của nhà máy. Những thông tin này phải được đưa vào yêu cầu kỹ thuật gửi cho nhà cung cấp, để nhà cung cấp đối chiếu với tài liệu kỹ thuật và bảng kháng hóa chất của hệ sơn cụ thể. Các hệ sơn của Kadier gồm hệ sơn RollCoat và hệ sơn LevelFlow; bài viết này không khẳng định bất kỳ hệ nào trong số đó kháng được một axit hay kiềm cụ thể nào, vì khẳng định đó chỉ có giá trị khi đối chiếu tài liệu kỹ thuật chính thức (TDS) của hệ đó. Quy trình thi công và an toàn lao động chung xem thêm: Quy trình thi công sơn epoxy chuẩn từ khảo sát đến nghiệm thu và An toàn lao động khi thi công sơn epoxy.
Lưu ý về phạm vi bài viết: nội dung trên mô tả đặc tính chung của vật liệu và hệ sàn epoxy, với khung tham chiếu TCVN 9014:2011 và TCVN 12574-2018 khi liên quan. Bảng trong bài chỉ mang tính định tính về khu vực, không ghi nồng độ, không ghi giá trị số, không phải bảng kháng hóa chất của bất kỳ sản phẩm nào. Bài viết không công bố thông số kỹ thuật hay kết quả kiểm nghiệm riêng của một hệ sơn Kadier cụ thể; các thông số đó chỉ áp dụng khi có tài liệu kỹ thuật chính thức (TDS) và bảng kháng hóa chất của sản phẩm cụ thể.
Ảnh đại diện: Michael Pointner trên Pexels.


Pingback: Sơn epoxy cho cụm KCN Bà Rịa – Vũng Tàu (Phú Mỹ, Cái Mép)